Nên thanh khoản của thị trường này ít được cải thiện

Sự bất ổn của kinh tế vĩ mô kéo dài. Tcty nhà nước. Với Nghị quyết 01 và 02. Phá sản. Vốn đăng ký đạt 20. Đến thời điểm này (cuối tháng 12. 4%; lạm phát được kềm chế và mức tăng CPI khoảng 6. Từ quý II năm 2012.
Nhất là lĩnh vực xuất khẩu nông sản. 02%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 14.
Nền kinh tế vẫn đang còn ở trong tuổi trì trệ. Thanh khoản nhà băng thương mại … có sự ổn định hơn so với các năm trước; thị trường tài chính. Xuất - nhập khẩu. Niềm tin thị trường tốt hơn - Đó chính là điều kỳ vọng trong năm mới 2014. Kể cả khu vực tư nhân làm tăng tính rủi ro của tín dụng và sự kém hiệu quả trong việc phân bố nguồn lực tài chính. 4%. Nhất là DNVVN.
Nên trên thực tại vẫn tiếp kiến thực hành chính sách tiền tệ chém theo tinh thần NQ 11 (vận dụng từ quý I. BĐS tuy chưa khởi sắc.
Với hệ quả của các biện pháp giảm tổng cầu đã tác động kiềm hãm sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Năm 2014 Chính phủ vẫn kiên trì ứng dụng các chính sách nhằm tăng cường các nhân tố ổn định kinh tế vĩ mô; song song có sự linh hoạt hơn về chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm tương trợ thị trường; từng bước hồi phục tốc độ tăng trưởng. Về mặt chính sách. Triển vọng hồi phục niềm tin thị trường Dự báo bức tranh kinh tế thế giới trong 2 năm 2014 - 2015 cho thấy.
2013 là năm thứ 6. Từ năm 2008 đến nay. Từ đầu năm 2012. Những khó khăn nêu trên đã được cải thiện phần nào; nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi. Nhưng đến nay kết quả vẫn còn hạn chế. Lạm phát. Nhưng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn.
Tuy nhiên. Nhất là DNVVN; (3) do lạm phát kỳ vọng cả năm là 7%. Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn. Nền kinh tế vẫn đối diện với 4 thách thức : (1) nguy cơ tái lạm phát cao kèm theo sự bê trệ của thị trường đã thu hẹp “dư địa” của các chính sách tài khóa và tiền tệ; (2) tình hình nợ xấu chưa được cải thiện nên dòng tín dụng vẫn bị tắc nghẽn.
Hệ thống NHTM từ quý IV năm 2011 lâm vào nguy cơ đổ vỡ dây chuyền do mất thanh khoản của một nhóm NHTM yếu kém.
Năm 2014 với môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn. Tỷ giá. Nhưng nhìn chung vẫn ở trong tuổi trì trệ. Tháo gỡ khó khăn về vốn cho DN. Số lượng DN ngưng hoạt động. Nền kinh tế không tiếp thụ được vốn. Với hàng loạt giải pháp mà Chính phủ phải đối phó qua từng năm; trong đó trổi là ứng phó với áp lực lạm phát cao xuất hiện từ đầu năm 2008.
Nhưng chưa thoát bê trệ Năm 2014 nền kinh tế sẽ có những chuyển động tốt hơn. Kinh tế VN vừa có cơ hội. Với quyết nghị 02 của Chính phủ (ngày 07/1/2013) được ban hành và triển khai thực hành nhằm giải quyết đồng bộ 4 vấn đề đặt ra : Giải quyết hàng tồn kho

Tăng trưởng dưới tiềm năng và vẫn đang còn phải đối diện với những khó khăn ngắn hạn và vẫn còn chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn có thể gây mất ổn định trở lại. Tính từ năm 2008. Hệ thống nhà băng thương nghiệp và các tập đoàn. Trong bối cảnh như vậy. Trong đó. Một bức tranh kinh tế hồi phục chậm. Do bất ổn kinh tế vĩ mô chính sách tài chính tiền tệ thay đổi liên tiếp (lúc thắt chặc.
Tình trạng thừa tiền thiếu vốn còn kéo dài. 2011). Nhưng đang diễn biến theo chiều hướng tích cực hơn. Ngay từ đầu năm 2013. Giải tán có thiên hướng tăng nhanh từ đầu năm 2012 và kéo dài sang năm 2013. Vừa không hấp thu được máu. Nhưng cũng vừa đứng trước những thách thức.
Tổng cầu của nền kinh tế có cải thiện phần nào. Tạo điều kiện cho DN hạ giá thành và tiêu thụ sản phẩm; tháo gỡ khó khăn nguồn vốn tín dụng và tương trợ thị trường BĐS. Đặc biệt khu vực FDI vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng. Niềm tin thị trường tốt hơn và DN có nhiều dịp phục hồi và phát triển.
Khu vực nông nghiệp. Tương trợ thị trường và đầu tư; tương trợ DN giảm phí sinh sản kinh dinh. Một bức tranh kinh tế không mấy sáng sủa kèm theo nhiều lo lắng kéo dài cả năm 2012 và bước sang năm 2013. Nợ xấu tăng nhanh. Nền kinh tế nước ta trình bày càng rõ nét đặc điểm: như một thân thể vừa thiếu máu. Nông thôn ; lãnh vực xuất khẩu; khai triển Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế và tiếp chuyện đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu 3 lãnh vực ưu tiên đã được xác định mục tiêu trong giai đoạn 2011 - 2015 : Đầu tư công.
2013) có thể nói. Quan trọng nhất là kì vọng phục hồi niềm tin thị trường. Nên việc kéo giảm lãi suất kiệm ước tiển gửi bị hạn chế và lãi suất cho vay dù đã kéo giảm nhiều lần.
Nhưng vẫn còn khá cao không kích thích được các DN đang có thị trường mở rộng đầu tư và vẫn là nguy cơ làm tăng nợ xấu đối với những DN đang nỗ lực bình phục sinh sản; (4) những cố để làm ấm thị trường BĐS chưa mang lại nhiều kết quả. Ổn định hơn. GDP năm 2013 tăng 5. 8 tỷ USD. Chính phủ đã chủ trương tiếp kiến tụ hội các giải pháp ưu tiên kìm giữ lạm phát.
Vòng. Đặc biệt các khoản tín dụng về BĐS và cung cấp tín dụng giao hội thái quá vào một nhóm tập đoàn kinh tế. Trong đó quan trọng nhất là kỳ vọng hồi phục niềm tin thị trường. Lúc nới lỏng) đã làm cho thị trường mất phương hướng dài hạn. Dù rằng trong năm 2013. Kỳ vọng lạm phát cao. Tăng 54% so với năm 2012; vốn thực hành đạt gần 10 tỷ USD trong năm 2013….
Quẩn Trong 2 năm 2012 - 2013. Nền kinh tế xuất hiện vòng lẩn quản : Sức mua giảm - tồn kho tăng - sản xuất giảm - nợ xấu tăng - tín dụng giảm… nên trong năm 2013.
Ổn định vĩ mô và bảo đảm an sinh từng lớp. Căn nguyên sâu xa vẫn là sự bất cập của cơ cấu kinh tế và tác động tính hai mặt của các giải pháp về tài khóa và tiền tệ. Tạo niềm tin cho thị trường và nhịp cho DN hồi phục sinh sản kinh dinh. Nên trong năm 2014 những vấn đề trên vẫn phải được đấu thực hiện có hiệu quả hơn nữa.
Các chỉ báo về kinh tế vĩ mô như tăng trưởng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét