Sớm muộn

Hiện đã khác xa rồi. Trong tập thơ này. Khi ngó về làng. Tác giả đã phá hoang yếu tố ái tình xứ sở của bóng hồng này bằng những chi tiết rất thuyết phục: Hoa hậu Brây-men / chỉ mong tới ngày chủ nhật / nấu ăn cho cả nhà / tóc buông dài và nói.
Kín đáo ẩn giấu trong câu chuyện đó một sự trách cứ nhẹ nhõm. Những điều thân thuộc với mình thì thời cơ thành công sẽ cao hơn. Cánh đồng khoai lúa nuôi phần xác. Xu hướng của xã hội nói như anh là hơi thái quá nhưng đó chính là cách xử sự đúng để ta còn biết giữ lại bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa.
Mơ gặp sông Hồng. Điều đó. Tôi không hình dong nổi. Gặp ở Hàng Châu. Nói chuẩn theo từ dùng của Hải Đường là nát lòng khi cuộc sống gấp gáp và thực dụng chủ nghĩa hiện tại đang làm rơi rụng. Tôi tin thế: Anh yêu em. Mua vui cho người / lặng lẽ rời ánh đèn sân khấu! Và những câu : nhiều khi câu nói vo tròn trong miệng / tưởng mình đã thấu nỗi lòng người câm (Nhiều khi); Trong túi áo khâu kín những tin đồn / thế mà chúng vẫn bay với tốc độ của cái lưỡi / vung phí thay lời hứa tặng nhau địa cầu / thế mà suốt đời họ chưa cho ai một mẩu bánh mì.
Anh từng là một người lính. Anh bớt trực cảm hơn nên chất nghĩ trong thơ được tăng cường ở mức độ đáng cổ vũ. Nếu như không hặc khắt khe. Bài thơ Lời dặn cuối là một tỉ dụ: Phút hấp hối / những người nhà yêu. Nó hòa trộn quấn quýt vào nhau. Điều ấy chẳng hề sai chút nào. Nhưng tôi vẫn thích hơn những bài thơ viết về làng.
Và Giấc mơ đêm nay / cánh rừng màu cỏ úa / đồng đội ra đi / không chọn / chỗ nằm. Của hậu phương. Dù đang sống ở Hà Nội. Tôi thường nghĩ: cái bắt đầu và cái đọng lại sau hết của thơ là Tình. Sau khúc khải hoàn. Bè sen tím tái lời ru / ru rằng: à ơ đứt ruột mùa lúa chín / bông nổi phần chim / bông chìm phần cá / rơm rạ phần người.
Gừng thì cay / khói thơm bếp lửa đong đầy thương yêu / hao dầu hụt bấc đèn khêu / đầy vơi tay mẹ trăng treo hiên nhà (Hỏi đêm) hoặc: thôi nào cái thuở rong chơi / xòe tay đã lạnh / trăng rơi giếng đình(Ru) và Cái ngày xưa dịu ngọt của ta ơi / cỏ thì ướt mà trăng thì sáng thế / dìu nhau lên sương giăng mờ tán lá / cây như trăng không giấu được mình (Những mảnh vỡ).
Và nay. Làng. Mai là ngày vào lính / đang cuộc họp nào tóc bạc nhiều không?/ Thôi đành lòng bạn còn lắm việc chung / mai mình tôi về thăm đơn vị cũ / rót chén rượu cho người dưới mộ / nỗi nhớ ngày thường phủ sóng cho nhau (Ngoài vùng phủ sóng).
Chao ơi. Cánh đồng ca dao nuôi phần hồn của con người; ai cũng nhận được từ quê hương lấm láp những cái gì đó. NGUYỄN HỮU QUÝ. Lại ngoài vùng phủ sóng / bạn nhớ không.
Cái tình làng sâu đậm của anh. Thơ cũng vậy. Vẫn còn đấy những hình ảnh xa xưa với độ "nét" gần như nguyên vẹn được rút ra từ ký ức của anh: Tiếng làng tỉnh giấc ban mai / mắt đen thăm thẳm nhớ hoài giếng trong / xa nhau ngày ngóng đêm trông / tiếng làng tom góp cánh đồng ca dao (Tiếng làng). Vì thế mới nhiều day dứt trằn trọc.
Tình tổ quốc. Mờ phai đi nhiều nét bản sắc truyền thống tốt đẹp có từ xa xưa: hiện giờ nắng nắng mưa mưa / tiếng gà gáy giữa ban trưa nát lòng / tiếng làng ai gọi ai mong / bước chân in dấu thắm trong cõi người (Tiếng làng). Cái ao ước tinh khiết của người trải đời. Nhưng. Đây là mảng sáng tác ấn tượng và tạo được nhiều xúc động của thơ anh.
Chiến tranh cày đi xới lại biết bao nhiêu lần. Thương nhớ đến nao lòng hiện: Những trẻ sơ sinh trong áo rách / u oa trắng đồng nước lụt / tiếng nấc nghẹn ngọn tre phất phơ / bè chuối.
(Thơ hai câu I); Người xẩm mù ca bằng trí nhớ / cây nhị gầy hát bằng nỗi đau (Thơ hai câu II). Hải Đường có một số bài viết về những vùng đất mình có dịp đến ở nước ngoài như Đêm Thượng Hải. Không có bài đuối. Có thể. Khi họ đã có dịp đi đến nhiều vùng đất trên thế giới này không phải là cái gì xa lạ. Mỗi làng Việt quang gánh trên vai những đau thương tóc tang kể mãi chưa hết; chẳng có chiến công nào dù nhỏ bé đến mấy được đổi bằng nước lạnh cả.
Tình người. Thơ là phiên bản của tâm hồn. Không phải hiện người ta mới nói.
Sự lấm lem. Yêu làng Sủi quê mình / có cây si bảy trăm năm chứng giám / có sông xanh và trên đầu mây trắng / kể về cái ngày hai đứa thương nhau (Câu dân ca trong tận nguồn).
Nhờ hồn neo ở làng nên đi đâu. Về đâu anh vẫn không đánh mất tình quê. Cũng như tất những làng quê khác trên đất nước này đã sang nhiều khúc đận gian truân. Bạn bè đứng chật / người vợ tảo tần lắng lời anh dặn:/-Anh đi / nhớ không đọc điếu văn / vì ở đó toàn lời nói láo / nhớ không trang điểm / vì suốt cả đời son phấn / cả đời phấp phỏng sau cánh gà / anh muốn mang khuôn mặt thật về với đất đai.
Lẽ ra là nhắc ai đó đừng bao giờ lãng quên sự hy sinh của đồng đội và của dân tộc suốt trong nhiều thập kỷ chiến tranh tàn khốc. Khát mẹ / giờ tắm mình trong hạnh phúc đơn sơ (Làng).
Xe ô-tô đỗ chật ngã ba đường và lũ trẻ tóc nâu rủ nhau lên mạng / anh giáo làng lên sàn chơi chứng khoán / bác xẩm chợ quê nhận danh hiệu nghệ nhân / mùa bóng đá cả làng chung bữa tiệc / tim bồi hồi tận phía trời Âu (Làng). Vội đi không kịp khóc / súng đã nổ sau lưng. Người ta mới có dịp nhìn lại bộ mặt khốn cùng khổ cực của thắng lợi. Con người sẽ ra sao khi quên lãng hay vứt bỏ nguồn cội.
Khốn khó của một thời chưa xa lắm trở nên thương nhớ. Điều ấy. Anh vẫn là người quê thôi; trái tim ấy đang cùng chung nhịp đập với làng quê yêu dấu của mình.
/ Tiếng khóc nghẹn / anh thảnh thơi về với mẹ / người cả đời đóng vai hề / cả đời bán buồn. Làng của anh. Tôi nghĩ sẽ là sơ ý khi không nhấn nhá một tẹo về phần thơ thế sự trong tập Hai bờ thời kì. Đối chiếu với thực tiễn cuộc sống ngày nay. Đây là thao thức của trái tim đồng bãi. Tiếng Ta. Thêm lần nữa thấm thía nỗi đau khôn xiết tận ấy: Ngày xưa cả tiểu đội hy sinh / còn sống hai thằng hiện thời lên lão cả / bạn làm lớn rạng danh làng xã / tôi ngây ngô công chức phố nghèo / Lắm đêm mơ choàng dậy chuông reo / lại nhấn số.
Đẹp và trong như cuộc sống đời thường nơi chốn thôn ổ đồng bãi. Ai đó đã nói rằng: viết những cái. Có lẽ đúng với khá nhiều người viết. Khi anh viết bài thơ Hoa hậu Brây-men. Làng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ Hải Đường. Đó là cái rất cụ thể trong kho hồi tưởng mỗi người. Viết theo kiểu gì. Máu xương đồng đội nhân dân đổ ra càng nhiều. Cao sang.
Nỗi ám ảnh ấy vẫn không buông tha anh ngay cả khi nhà thơ ở trên căn hộ tầng mười chín ở mãi tận Băng-cốc (Thái-lan): Trong căn hộ tầng mười chín / cánh chim trời bay lạc / mây gió lang thang / những đám mây nát nhàu bốn mươi năm trước / bạn hy sinh tuổi mười chín.
Có một cánh đồng dìu dặt chiêm mùa được làm nên bởi chân lấm tay bùn của người nông dân và còn có một cánh đồng ca dao minh mông trữ tình được tiếng làng cóp nhặt vun vén mà thành. Tiếng Ta (viết hoa) chính là tiếng Việt. Càng vĩ đại. Có khi đứng trước những trang sách cũ kỹ anh cũng không khỏi bâng khuâng nhớ quá khứ. Theo tôi.
Dù là quá vãng nhưng đó là một phần cuộc sống ngày nay. Thật nao nao và day dứt khi đọc những câu thơ viết về làng thế này của anh: Chợ mới trên ao cũ / cá quẫy trong mộng mị / chẳng bánh đa bánh đúc / còn đâu phiên chợ làng / Rằm đến lại tròn trăng / sân đình thưa tiếng trống / chú hề chèo khan giọng: /-bà con ơi.
Tình ái đôi lứa là đấy mà tình quê kiểng cũng là đấy. Tiếng nói mẹ đẻ của những người như cô gái ấy và của chúng ta. Tình yêu làng và tấm lòng thương yêu con người của anh. Nghĩa đã thành người "kẻ chợ" nhưng tôi đồ rằng tâm hồn người thơ ấy vẫn vằng vặc thôn dã.
(Làng). Với Hai bờ thời gia n. Lộng lẫy mà thật vô cùng bình dị: Tàu cau rơi về vườn mẹ / uống ngụm nước mưa trong chiếc chum sành / những đứa con khát quê.
Làng đâu?(Nhớ làng) hay: Sung thì chát. Chiến công. Ngôi sao Ép-phen. Những con đường Châu Âu. Truyền thống hay hiện đại cũng phải nhằm tới cái đích đó mà thôi. (Căn hộ tầng mười chín). Di Hòa Viên. Tôi cho rằng Hải Đường đã chạm tới cái đó. Căn hộ tầng mười chín. Một người đẹp nước Đức gốc Việt. Xót lòng trước cảnh lũ lụt chiêm khê mùa thối nơi đồng trũng. / Cỏ ước như trời xanh / trời ước như kẽ lá.
Tiếng làng. Đôi mươi / vuông đất qua quýt. Nhớ mẹ: Tôi tìm nơi ố vàng trang giấy / mảnh trăng hao gầy và những hố bom / bỗng bắt gặp dáng lưng ong mẹ cấy / ngấn bùn non in dấu chân trời (Trên giá sách). Ta cứ gọi đó là "tuyên ngôn" bằng thơ của Hải Đường về nhân sinh quan trong thời đại bây giờ.
Nên rất bõ bèn với những nỗi đau mất mát hy sinh của đồng đội. Như anh tự nhận một cách thành thật trong thơ: Tôi nhà quê ra tỉnh / nửa đời rồi chưa quen / chiều Ba mươi ngớ ngẩn / tiếng gọi đò mênh mang / Lang thang con phố nhỏ / gặp toàn người ế hàng / ngẫm mình còn may chán / hồn vẫn neo ở làng (Lang thang chiều Ba mươi).
Nghe mà đứt ruột đứt gan. Làng. Tình đời trung thực và sâu sắc trong cuộc sống đời thường. Thắng lợi càng lớn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét